User Profile

tiket kereta toko bagus berita bola terkini anton nb Aneka Kreasi Resep Masakan Indonesia resep masakan menghilangkan jerawat puncak pass resort recepten berita terkini game online hp dijual

1992 ngan nguyen

Bio Statement 1/ Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ

Hiện nay, phương thức tín dụng chứng từ là phương thức được áp dụng phổ biến nhất trong TTQT. Việc thực hiện các nghiệp vụ về thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ được điều chỉnh bởi văn bản “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ, số 500, bản sửa đổi năm 1993” (gọi tắt là UCP.500) của Phòng thương mại quốc tế Paris.

Theo văn bản này thì phương thức tín dụng chứng từ là một sự thoả thuận, trong đó một ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng), theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng), sẽ mở một thư tín dụng cho người hưởng lợi do khách hàng chỉ định trong đó cam kết sẽ trả một số tiền nhất định cho người đó (người hưởng lợi của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này ký phát trong phạm vi số tiền đó, khi người này xuất trình cho ngân hàng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng.

Khái niệm phương thức tín dụng chứng từ

Xem thêm >>> nhận làm luận văn tốt nghiệp

2/ Ý nghĩa của phương thức tín dụng chứng từ

Trong giao dịch thương mại quốc tế hiện đại, các bên đối tác mua bán thường lựa chọn Tín dụng chứng từ làm phương thức thanh toán. Sở dĩ tín dụng chứng từ được ưa chuộng và sử dụng phổ biến như vậy là do nó có những đặc điểm nổi bật so với các phương thức thanh toán khác.

Nếu như, phương thức chuyển tiền, nhờ thu gây bất lợi cho một bên người mua hoặc một bên người bán, cũng có khi là cả hai bên thì phương thức thanh toán Tín dụng chứng từ tỏ ra ưu việt hơn, nó không những mang lại một số quyền lợi nhất định cho Ngân hàng mà nó còn đảm bảo quyền lợi cho cả hai bên tham gia xuất nhập khẩu: Người bán đảm bảo được thanh toán nếu xuất trình được bộ chứng từ hoàn chỉnh, hợp lệ, còn người mua cũng đảm bảo nhận được hàng đúng thời hạn, đúng như quy định trong hợp đồng.

Cụ thể, sử dụng phương thức thanh toán tín dụng chứng từ có những ý nghĩa nhất định như sau:

a/  Đối với nhà xuất khẩu

Là người hưởng lợi của thư tín dụng, nhà xuất khẩu có được đảm bảo rằng khi xuất trình bộ chứng từ  phù hợp với các điều kiện và điều khoản của thư tín dụng (L/C) cho ngân hàng, nhà xuất khẩu sẽ nhận được tiền thanh toán.

Tình trạng tài chính của người mua được thay thế bằng việc ngân hàng mở thư tín dụng cam kết trả tiền, chấp nhận hoặc chiết khấu trên cơ sở chứng từ được trao phù hợp với các điều khoản của L/C.

b/ Đối với nhà nhập khẩu

Trước hết, nhà nhập khẩu sẽ nhận được hàng hoá như thể hiện trong các chứng từ được ngân hàng mở L/C ghi rõ trong thư tín dụng. Anh ta cũng được bảo đảm rằng tài khoản của mình sẽ chỉ bị ghi nợ số tiền của

thư tín dụng khi tất cả các chỉ thị của thư tín dụng được thực hiện đúng.

Trong trường hợp ngân hàng áp dụng mức miễn ký quỹ 100% hoặc một tỷ lệ miễn ký quỹ nhất định nào đó, nhà nhập khẩu sẽ không bị đọng vốn vì không phải ứng trước tiền. Hơn nữa, nhờ có sự bảo đảm về thanh toán, nhà nhập khẩu có thể tiến hành thương lượng các điều kiện tốt hơn về hàng hóa như giá cả, chất lượng và trên hết là có thêm cơ hội để nhập được hàng hoá mà mình cần.

c/ Đối với ngân hàng thương mại (NHTM)

Có thể nói, thanh toán theo phương thức tín dụng chứng từ là một loại hình dịch vụ không thể thiếu của ngân hàng phục vụ cho người nhập khẩu nên khi hoạt động thanh toán đạt hiệu quả cao sẽ đem lại nguồn thu lớn cho ngân hàng với một mức rủi ro tương đối thấp.

Khi tiến hành nghiệp vụ thanh toán L/C, ngân hàng có được một nguồn thu ổn định từ việc thu phí như phí mở, sửa đổi, điều chỉnh L/C, phí thông báo, thanh toán, xác nhận L/C (các khoản phí trong nghiệp vụ thanh toán L/C nói chung khá cao, cao hơn so với những phương thức thanh toán khác vì nghiệp vụ này tương đối phức tạp, đòi hỏi trình độ nghiệp vụ cao).

Ngoài ra khi quy định các khoản ký quỹ cho doanh nghiệp mở L/C ngân hàng còn huy động thêm được một lượng vốn đáng kể phục vụ cho hoạt động của các nghiệp vụ khác như cho vay xuất nhập khẩu, xác nhận, bảo lãnh… Hơn nữa, với việc thực hiện tốt nghiệp vụ thanh toán L/C sẽ góp phần nâng cao uy tín của ngân hàng trên nhiều phương diện khác nhau không chỉ ở trong nước mà ngay cả trên trường quốc tế.

Ý nghĩa của phương thức tín dụng chứng từ

Tham khảo thêm >>> Mô hình SERVQUAL đánh giá chất lượng dịch vụ

3/ Cơ sở pháp lý của thanh toán Tín dụng chứng từ:

Ngày nay, thương mại Quốc tế phát triển rộng khắp trên toàn cầu, các quốc gia tham gia giao dịch, mua bán trên thị trường Quốc tế rất lớn. Với lịch sử phát triển, nền văn hoá mang bản sắc riêng, hệ thống pháp luật, thể chế chính trị khác biệt…, các quốc gia luôn gặp phải những khó khăn trở ngại trong giao dịch thương mại với nhau.

Vì vậy, cần thiết phải có những quy định, luật lệ mang tính thống nhất cho tất cả các quốc gia tham gia thương mại Quốc tế, do các tổ chức có trách nhiệm, uy tín trên thế giới soạn thảo và ban hành nhằm ngăn ngừa, giải quyết những khó khăn và trở ngại trong thương mại Quốc tế.

a/ Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ  (Bản sửa đổi 1993, số xuất bản 500 Phòng thương mại Quốc tế Paris (The uniform customs and practice for documentary credit – UCP) (1993 Revision- ICC Publication No.500).

Để thống nhất các quy tắc trong Tín dụng chứng từ, tránh cho các bên tham gia gặp phải khó khăn và hạn chế được những tranh chấp, kiện tụng có thể xảy ra do luật lệ các nước khác nhau, phòng thương mại Quốc tế (The International Chamber of Commerce – ICC) đã biên soạn “Quy tắc và thực hành thống nhất về Tín dụng chứng từ”. Qua nhiều lần sửa đổi, bản điều lệ sửa đổi năm 1993 (1993 Revision), ấn bản số 500 (Publication No.500) là bản điều lệ hoàn thiện và sâu sắc nhất, đáp ứng được yêu cầu của các bên tham gia, mà phần lớn các quy định trong bản điều lệ số 500 có liên quan đến hoạt động Ngân hàng.

Kể từ khi được phát hành năm 1933, bản điều lệ đã qua 06 lần sửa đổi với mục đích theo kịp sự phát triển chung của nền mậu dịch, nền công nghiệp vận tải và truyền thông trên thế giới. Nhiều bản dịch tiếng Việt ra đời nhằm tạo sự thuận lợi trong việc vận dụng vào giao dịch thực tế.

UCP được thừa nhận là một bộ quy tắc điều chỉnh việc thực hiện tín dụng chứng từ trên phạm vi toàn thế giới. Cho tới nay các hiệp hội ngân hàng và các ngân hàng riêng lẻ trên 160 nước trên thế giới đã công nhận và áp dụng bản sửa đổi gần đây nhất năm 1993 (UCP 500).

Bản điều lệ 500 ra đời trên cơ sở sửa đổi nội dung của bản điều lệ số 400. Yêu cầu của sự sửa đổi này là nêu bật sự phát triển của nền công nghiệp vận tải và việc ứng dụng công nghệ mới. Sửa đổi này cũng làm hoàn thiện chức năng của bản điều lệ. Một số nghiên cứu cho thấy khoảng 50% chứng từ xuất trình bị từ chối vì bất hợp lệ.

Điều này đã vô hiệu hoá Tín dụng chứng từ và tạo ra những áp lực tài chính đối với nhà sản xuất. Vấn đề này cũng làm tăng mức độ rủi ro dẫn đến tăng chi phí, giảm thu nhập đối với cả nhà xuất khẩu, nhập khẩu và Ngân hàng. Sự gia tăng đáng kể về tranh chấp trong giao dịch Tín dụng chứng từ cũng là điều được các nhà soạn thảo bản sửa đổi quan tâm.

Nguồn >>> phương thức tín dụng chứng từ



ISSN 1920-7603

 

Google Scholar Profile